XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA TÒA ÁN VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Công ty Luật TNHH IMC - Hãng luật IMC
Phòng 1107, Tháp A, Tòa nhà 173 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Ls. Phan Minh Thanh - 0968.829.818
Ls. Nguyễn Mạnh Cường - 0912.292.505
LH: 0969.857.762
Theo quy định của pháp luật dân sự và thương mại Việt Nam hiện
tại, Tòa án hoặc Trọng tài thương mại là hai chủ thể có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp phát sinh giữa các bên tranh chấp. Việc xác định thẩm quyền giải quyết
tranh chấp cụ thể như sau:
Các trường hợp sau thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
1- Giữa
các bên trong quan hệ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài.
Dù quan hệ tranh chấp thuộc
loại việc quy định tại điều 2 Luật trọng tài thương mại nhưng nếu các bên không
có thỏa thuận trọng tài thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết, mà thẩm
quyền giải quyết loại việc tranh chấp đó sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án.
2-
Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc
các trường hợp sau đây thì cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường
hợp các bên có thỏa thuận khác:
2.1 Có quyết định của
Tòa án hủy phán quyết trọng tài, hủy quyết
định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;
2.2 Có quyết định đình chỉ
giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, trung tâm trọng tài theo quy định
của khoản 1 Điều 43 luật TTTM;
Khoản 1 Điều 43 Luật TTTM
quy định: “Trước khi xem xét nội dung vụ
việc tranh chấp, Trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tà; thỏa
thuận trọng tài có thể thực hiện được không và xem xét thẩm quyền của mình.
Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì hội đồng trọng
tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của luật này. Trường hợp
không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc
xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì hội đồng trọng
tài quyết định đình chỉ giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết”.
Tại các điểm a, b, d, đ
Khoản 1 Điều 59 Luật TTTM quy định:
“a, Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ
không được thừa kế;
b, Nguyên đơn hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động, bị
phá sản, giải thể, hợp nhất, sát nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ
chức mà không có cơ quan, tổ chức nào tieeos nhận quyền, nghĩa vụ của cơ quan,
tổ chức đó;
d, Các bên thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp;
đ, Tòa án đã quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô
hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được theo quy định tại khoản
6 Điều 44 của Luật này”.
Tại khoản 6 Điều 44 của
Luật TTTM quy định:
“Trong trường hợp Tòa án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền
giải quyết của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng
tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, Hội đồng trọng
tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp. Nếu không có thỏa thuận nào
khác, các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra Tòa án...”
2.3 Ngoài các trường hợp
nêu trên, các tranh chấp thuộc trường hợp “Thỏa
thuận trọng tài không thể thực hiện được” quy định tại Điều 6 Luật TTTM
cũng sẽ do Tòa án giải quyết.
Dưới đây được coi là các trường hợp thỏa
thuận trọng tài không thể thực hiện được:
a)
Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại
một trung tâm trọng tài cụ thể nhưng trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động
mà không có tổ chức trung tâm kế thừa và các bên không thỏa thuận được việc lựa
chọn trung tâm trọng tài khác giải quyết tranh chấp.
b)
Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn
Trọng tài viên nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan mà trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh
chấp hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các
bên đã thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn trọng tài viên
khác để thay thế.
c)
Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn
Trọng tài viên nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp trọng tài viên từ chối việc
được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và
các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
d)
Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại
một Trung tâm trọng tài nhưng tỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của trung tâm
trọng tài khác với Quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều
lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không
cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài khác và các bên không
thỏa thuận được về việc lựa chọn quy tắc tố tụng thay thế.
e)
Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu
dùng có thỏa thuận được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng
hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM, nhưng khi
phát sinh tranh chấp người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn trọng tài để giải
quyết tranh chấp.
Thông thường, nếu các bên
đã có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài là hoàn toàn hợp pháp, phù hợp
với quy định của pháp luật thì các bên phải tôn trọng sự thỏa thuận đó. Khi có
tranh chấp mà một bên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án sẽ trả lại
đơn, không thụ lý. Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch
vụ và nhà tiêu dùng thì dù trong giao dịch hợp đồng đã ghi nhận về thỏa thuận
trọng tài và thỏa thuận trọng tài này không trái pháp luật, nhưng khi có tranh
chấp thì pháp luật dành quyền quyết định cho người tiêu dùng lựa chọn phương thức
giải quyết tranh chấp là Tòa án hay trọng tài. Nếu người tiêu dùng không muốn lựa
chọn trọng tài là bên giải quyết tranh chấp thì cho dù nhà cung cấp hàng
hóa, dịch vụ đã kiện ra trọng tài thì trọng tài cũng không có quyền thụ lý, giải
quyết. Thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này là theo ý chí của người tiêu
dùng.
Sở dĩ pháp luật dành quyền
ưu tiên cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp
vì người tiêu dùng thường ở vụ thế yếu hơn so với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ
cả về phương diện kinh tế, xã hội lẫn điều kiện cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình; dù về địa vị pháp lý sự bình đẳng trước pháp luật
là như nhau. Do đó việc luật quy định người tiêu dùng có quyền lựa chọn phương thức giải quyết
khi có tranh chấp là nhằm tạo thuận lợi cho người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho mình một cách tốt nhất. Pháp luật của Việt Nam cũng như nhiều
nước trên thế giới trong trường hợp này chọn phương án bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng - vốn được coi là bên yếu thế.
2.4 Thỏa thuận trọng tài
vô hiệu quy định tại điều 6 và điều 18 Luật TTTM.
- Tranh chấp phát sinh
trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài quy định tại điều 2 của
Luật TTTM;
- Người xác lập thỏa thuận
trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Người xác lập thỏa thuận
trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS;
- Hình thức của thỏa thuận
trọng tài không phù hợp với điều 16 của Luật TTTM;
- Một trong các bên bị lừa dối,
đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu
tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu.
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay đã có những quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tranh chấp cụ thể cho Toà án và Trọng tài thương mại. Do vậy, các bên tham gia quan hệ cần chuẩn bị và xác lập với nhau những thỏa thuận đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật, đảm bảo bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như lợi ích chung của đôi bên.
Nhận xét
Đăng nhận xét