Xác định phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Công ty Luật TNHH IMC - Hãng luật IMC
Phòng 1107, Tháp A, Tòa nhà 173 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Ls. Phan Minh Thanh - 0968.829.818
Ls. Nguyễn Mạnh Cường - 0912.292.505
LH: 0969.857.762

Về việc giải thích thế nào là nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Nghị quyết 01/2014 /NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 tại điểm đ khoản 2 Điều 14 đã quy định: “Phán quyết của trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam. 
Nghiên cứu các quy định thuộc phần 7 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các quy định khác có thể rút ra bốn vấn đề cơ bản như sau:
-         Một là, hầu hết các trường hợp không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài được quy định tại điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đều là các trường hợp trọng tài vi phạm về thẩm quyền, thỏa thuận trọng tài, về thủ tục thông báo, thủ tục giải quyết hoặc phán quyết trọng tài chưa có hiệu lực hoặc không có hiệu lực...Điều đó có nghĩa Hội đồng xét đơn yêu cầu chỉ có thẩm quyền xem xét các vi phạm theo luật hình thức, tố tụng trọng tài chứ không căn cứ luật nội dung để xem xét, giải quyết lại nội dung quan hệ tranh chấp.
-         Hai là, không có điều nào quy định khi áp dụng điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không phải tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều 458 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tức là về nguyên tắc không được xét xử lại quan hệ tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài giải quyết.
-         Ba là, thuật ngữ “người thứ ba” được dùng trong nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giống như trong tố tụng dân sự.
Trong Luật trọng tài thương mại Việt Nam không có người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà chỉ có những chủ thể có thỏa thuận trọng tài mới là đương sự trong tố tụng trọng tài. Do đó, trong vụ tranh chấp nếu có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có thỏa thuận trọng tài thì quyền lợi, nghĩa vụ của họ sẽ không được trọng tài giải quyết mà quyền, nghĩa vụ của họ sẽ được giải quyết theo tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
-         Bốn là, các nguyên tắc không cơ bản hoặc nguyên tắc dù nằm trong Điều luật hoặc Chương có tiêu đề “những nguyên tắc cơ bản” nhưng không mang tính phổ quát, chỉ có ý nghĩa điều chỉnh xử sự của các bên trong quan hệ pháp luật đang tranh chấp thì không sử dụng làm căn cứ xác định vi phạm điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài.
Dù nội hàm điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chỉ đơn thuần đề cập đến phạm vi xem xét về hình thức, đến tính tố tụng mà hàm chứa phạm vi xem xét cả về nội dung của phán quyết. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật lập pháp đây là một quy định quét có tính chất phòng ngừa cho những trường hợp rất đặc biệt dù rất hiếm nhưng vẫn có thể xảy ra trong thực tiễn mà các quy định cụ thể không điều tiết được, chứ không nhằm sửa chữa cho những trường hợp phán quyết phạm những sai sót thường thấy dù nghiêm trọng về mặt nội dung.
Do đó, có cơ sở để khẳng định không phải trong mọi trường hợp có yêu cầu áp dụng điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là Tòa án đều có quyền xem xét nội dung phán quyết trọng tài, bởi lẽ nếu hiểu và giải thích khác đi sẽ mâu thuẫn với quy định tại khoản 4 Điều 458 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những trường hợp được xem xét nội dung phải là những trường hợp đặc biệt.
Trên thực tế chưa có vụ việc nào Tòa án viện dẫn điểm b khoản 2 điều 459 (Tòa án áp dụng quy định không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam) để bác yêu cầu, để kháng nghị hủy bỏ quyết định trong thủ tục giám đốc thẩm. Nếu quyết định có sai lầm cần kháng nghị thì trên thực tế thường áp dụng các quy định khác, chứ không áp dụng căn cứ “việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” để kháng nghị. Bởi lẽ những người có thẩm quyền hiểu rằng việc áp dụng căn cứ này cần sự thận trọng cao hơn, chỉ dành riêng cho trường hợp đặc biệt, khi những sự sai sót đó là hiển nhiên, phi công lý dưới bất cứ góc nhìn nào.
Vì vậy điểm b khoản 2 Điều 459 cần được hiểu, giải thích theo hướng vừa thống nhất với quy định tại khoản 4 Điều 458, vừa có sự khác biệt nhằm diễn đạt đúng ý đồ của nhà làm luật, không tạo ra sự mâu thuẫn, xung đột giữa hai điều luật nói trên khi giải thích, áp dụng.
Sự giải thích theo hướng thống nhất với quy định tại khoản 4 Điều 458 được thể hiện như sau: đối với hai bên đương sự trong tranh chấp, Hội đồng xét đơn không được áp dụng điểm b khoản 2 Điều 459 làm căn cứ để xem xét, để giải quyết lại nội dung quan hệ tranh chấp. Vì theo nguyên tắc các bên đương sự trong tranh chấp đều bình đẳng, đều được bảo đảm quyền tham gia tố tụng, đều có trách nhiệm chứng minh, tự bảo vệ đồng thời đều chịu rủi ro khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp.
Do đó, dù hội đồng xét đơn yêu cầu có nhận thấy phán quyết trọng tài đã diễn giải sai sự kiện, sai tình tiết, sai nội dung tranh chấp hoặc áp dụng sai pháp luật nội dung ... cũng không vì thế mà cho rằng phán quyết trọng tài đó vi phạm các nguyên tắc cơ bản theo pháp luật Việt Nam. Vì làm như vậy là xem xét, giải quyết lại nội dung quan hệ tranh chấp, vi phạm khoản 4 Điều 458 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vậy sự khác biệt khi áp dụng điểm b khoản 2 Điều 459 với khoản 4 Điều 458 là như thế nào?
Đó là những trường hợp phán quyết của Trọng tài vi phạm công lý hiển nhiên, bất kỳ ai khách quan nhìn nhận cũng đều thấy sự vô lý không thể chấp nhận hoặc vi phạm trật tự công, lợi ích công, lợi ích các chủ thể khác không liên quan đến quan hệ tranh chấp, có thể diễn giải chi tiết dưới các góc độ khác nhau là:
·        Trường hợp thứ nhất: Dù chủ thể không tham gia quan hệ pháp luật tranh chấp, không biết, không liên quan quan hệ pháp luật tranh chấp; không phải là đối tượng phải tham gia, được tham gia tố tụng trọng tài nhưng phán quyết trọng tài lại quyết định xâm phạm quyền, lợi ích của chủ thể đó (xâm phạm công lý hiển nhiên).
·        Trường hợp thứ hai: Phán quyết trọng tài có thể giải quyết đúng hoặc không đúng quyền, nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ hợp đồng, nhưng quan hệ hợp đồng đó chứa đựng nội dung xâm phạm đạo đức xã hội, hoặc nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, đó là quyền và nghĩa vụ của hai bên vi phạm trật tự công, lợi ích công, lợi ích xã hội nhưng Hội đồng trọng tài đã căn cứ vào các nội dung hợp đồng để ra phán quyết mà phán quyết này được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam sẽ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng về đạo đức, về kinh tế, xã hội, pháp luật.
Chỉ khi xác định được những hậu quả lớn lao đó sẽ xảy ra (không suy diễn) thì mới có căn cứ để áp dụng điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
·        Trường hợp ba: Phán quyết của Trọng tài nước ngoài nếu được thi hành sẽ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến môi trường đầu tư, môi trường sinh thái của Việt Nam...
·        Trường hợp thứ tư: Thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam nhưng pháp quyết trọng tài vẫn công nhận thỏa thuận đó; hoặc thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng nếu được công nhận sẽ ủng hộ về tài chính cho các tổ chức chống lại nhà nước Việt Nam, hoặc ủng hộ các cá nhân, tổ chức khủng bố nhưng phán quyết của trọng tài vẫn công nhận hợp đồng đó.
·        Trường hợp thứ năm: Phán quyết của hội đồng trọng tài sẽ gây phương hại đến mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam với nước khác, không tôn trọng các nghĩa vụ, cam kết quốc tế...


Nhận xét