Doanh nghiệp có thể phải chịu TNHS khi trốn đóng bảo hiểm cho người lao động

Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định về một số tội phạm mới, trong đó đáng chú ý là tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Để đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động, cũng như đảm bảo mục đích an sinh xã hội, pháp luật quy định rõ về nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của chủ sử dụng lao động, trong đó, chủ yếu là các doanh nghiệp. Do vậy, Bộ luật Hình sự 2015 bổ sung trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể khi không đóng bảo hiểm cho người lao động. Theo đó, điều 216 Bộ luật này quy định:

“1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;
d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;
c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.”
Như vậy đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động trong thời gian tới có hành vi gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp theo quy định, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Hình phạt chính đối với các doanh nghiệp này là phạt tiền với số tiền có thể lên đến 3 tỷ đồng tùy vào số tiền bảo hiểm không đóng và số người lao động mà doanh nghiệp không đóng bảo hiểm. Quy định như vậy sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng doanh nghiệp nợ tiền bảo hiểm của người lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Nhận xét